Tìm Hiểu Về Phật Thích Ca

01/01/2021 05:17
Là Phật tử khi thực hành quy y Phật, bạn cần hiểu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là bậc Thầy gốc của chúng ta. Ngài là bậc giác ngộ thấu rõ chân lý của vạn pháp, thị hiện trong hình tướng của loài người, đi vào cõi Sa bà đề khai sáng Ánh đạo vàng cho nhân gian.

    Là Phật tử khi thực hành quy y Phật, bạn cần hiểu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là bậc Thầy gốc của chúng ta. Ngài là bậc giác ngộ thấu rõ chân lý của vạn pháp, thị hiện trong hình tướng của loài người, đi vào cõi Sa bà đề khai sáng Ánh đạo vàng cho nhân gian.

    Khi bạn niệm câu: “Nam mô bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, chữ “bản” nghĩa là “gốc”, “sư” là “thầy”, “Bản sư” chính là “Bậc Thầy gốc”. Đức Phật Thích Ca là bậc Thầy gốc của tất cả chúng sinh ở cõi Sa bà. Chữ “Thích Ca Mâu Ni” là tiếng Ấn Độ, khi dịch nghĩa sang tiếng Trung Quốc, tên Ngài có hai nghĩa là Năng nhân và Tịch mặc.

    1. Phật Thích Ca là ai - giấc mơ báo trước về sự ra đời của Ngài.

    Tại Vương Quốc Ca Tỳ La Vệ (Kapilavattsu), ngày nay thuộc nước Nepal, vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, một hôm, hoàng hậu Ma Da (là vợ đức vua Tịnh Phạn - Suddodana) khi ấy sắp sinh đứa con đầu lòng đã nằm mơ thấy một luồng ánh sáng trắng mỹ diệu chiếu rọi vào bà, từ ấy một con voi trắng rất lớn, đến từ ngọn núi vàng dâng lên cho bà một bông sen trắng.

    Khi tỉnh giấc hoàng hậu Ma Da đã kể với Đức Vua và Ông đã triệu tập các nhà hiền triết, họ cho rằng, đây là một điềm lành báo hiệu rằng đứa bé sắp sinh sẽ là một vĩ nhân.

    - Ngày mùng 8 tháng 4 năm 624 TCN Đức Phật ra đời:

    Vào ngày mùng 8 tháng 4 năm 624 TCN, hoàng hậu Ma Da hạ sinh thái tử Tất Đạt Đa tại vườn Lâm Tỳ Ni. 

    Vua cha Tịnh Phạn vui mừng bèn triệu tập các vị thánh giả, đạo sư để xem tướng và cầu phúc cho con trai của mình.

    Một hôm có vị đạo sư tên là A Tư Đà đến từ Hy Mã Lạp Sơn xin yết kiến vua để chúc mừng và xem mặt thái tử. Ngài A Tư Đà xem xong bật khóc. Vua Tịnh Phạn hỏi nguyên nhân. A Tư Đà thưa rằng: “Thái tử có đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp sau này nhất định sẽ trở thành bậc chánh đẳng, chánh giác. Tôi khóc là vì tới lúc đó thì tôi đã chết rồi nên không có cơ hội nghe pháp của Ngài”.

    Lớn lên với sự thông minh và sức mạnh phi thường của mình, đến năm 12 tuổi ngài đã thông thạo tất cả các học vấn. Từ năm 13 tuổi ngày được truyền thụ võ nghệ. Ngài có sở trường bắn cung rất thiện xạ. Trong một lần trong một cuộc thi bắn cung, ngài đã nâng được chiếc cung rất nặng mà từ trước đến giờ chưa ai nâng nổi và bắn xuyên qua 7 lớp bia đồng trong khi người giỏi nhất cũng chỉ bắn xuyên được 3 lớp

    Sau khi giành chiến thắng trong cuộc thi tuyển chọn phò mã. Ngài đã kết hôn với công chúa Da Du Đà La lúc ngài được 16 tuổi.

    2. Bước ngoặc thay đổi cuộc đời của thái tử Tất Đạt Đa

    Con người gắng sắp đặt mọi điều, nhưng ý trời cuối cùng rồi vẫn sẽ quyết định tất cả. Đó là điều chúng ta thấy được thông qua câu chuyện cuộc đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Mặc dù bị cách ly nghiêm ngặt khỏi mọi điều có thể truyền cảm hứng tu hành, cuối cùng những gì vốn được sắp đặt cho tương lai của vị hoàng tử trẻ tuổi vẫn theo trình tự đến ngày hiển lộ…

    Trong cuộc sống hoàng cung nhung lụa, Tất Đạt Đa bắt đầu xuất hiện ước mong khám phá thế giới trần tục bên ngoài cung cấm. Người đã quyết định thực hiện một chuyến đi thăm thú vương quốc và thần dân của mình.

    Không có lý do chính đáng nào để ngăn cản nguyện vọng này, nhà vua đành chấp thuận và gắng bày xếp và chuẩn bị trước hoàn hảo nhất. Ông cẩn thận lên kế hoạch chuyến đi và trang hoàng mọi thứ trên lộ trình mà hoàng tử sẽ đi qua, biến tất cả thành hạnh phúc, giàu có và đẹp đẽ.

    Những cảnh tượng xấu hoặc buồn khổ sẽ được loại bỏ để ngăn không cho hoàng tử nhìn thấy bốn dấu hiệu đã được chỉ ra bởi những nhà thông thái là các dấu hiệu Lão – Bệnh – Tử, hay gặp 1 nhà tu hành khổ hạnh. Nhưng tất cả sự đề phòng của nhà vua đã trở nên vô ích khi hoàng tử đi du ngoạn với người đánh xe ngựa Sa Nặc, người đã được sắp đặt sinh cùng ngày với Tất Đạt Đa.

    Khi đang ngao du trong một thị trấn nhỏ, hoàng tử Tất Đạt Đa vô tình nhìn thấy khuôn mặt hằn sâu những nếp nhăn của một ông lão. Đó chính là dấu hiệu đầu tiên trong dự báo của các nhà tiên tri: dấu hiệu của Lão. Tất Đạt Đa ngạc nhiên và hỏi Sa Nặc về người đàn ông đó.

    Rồi cậu lại nhìn thấy một người đàn ông bị bệnh và đang ho, nó khiến người cảm thấy khó lý giải. Đó là dấu hiệu thứ 2 mà các nhà tiên tri đã nói: Bệnh. Cuối cùng, hoàng tử bắt gặp một đám tang ở bờ sông và một nhà tu hành khổ hạnh—người đã từ bỏ tất cả các niềm vui thế tục để đạt được sự an lạc trong nội tâm và hạnh phúc vĩnh hằng.

    Vậy là 2 dấu hiệu cuối cùng là Tử và sự hiện diện của một người tu hành khổ hạnh đã xuất hiện trước mắt Tất Đạt Đa. Sự an lạc từ bi trên gương mặt của nhà sư đã gây ấn tượng mạnh cho Tất Đạt Đa. Người hỏi Sa Nặc ý nghĩa của tất cả những thứ này. Người đánh xe ngựa kể cho hoàng tử nghe về hiện thực của cuộc sống mà đáng ra nên được biết từ lâu.

    Trở lại cung điện, Tất Đạt Đa đã xin phép vua cha cho rời cung điện và trở thành một nhà sư khất thực để tìm kiếm chân lý cuộc đời.

    Với những hạt giống tiềm ẩn được gieo sẵn trong tâm hoàng tử, khi gặp hiện thực xã hội, người đã ngay lập tức hiểu được rằng hết thảy mọi thứ trên đời là phù du và huyễn hoặc và thoảng qua, sự vĩnh hằng của sinh mệnh mới là điều chân chính cần phải kiếm tìm.

    Nhà vua Tịnh Phạn cảm thấy rất đau khổ và thất vọng, những gì ông trù tính rốt cuộc cũng không thành công. Nhà vua bèn sai binh lính tăng cường phòng ngự nghiêm ngặt xung quanh cung điện, đồng thời tổ chức thêm nhiều thú vui tiêu khiển để níu chân hoàng tử, hy vọng làm con mình quên đi những gì đã gặp ngoài xã hội. Đúng lúc này, phu nhân hoàng tử, công chúa Da Du Đà La đã sinh hạ người con đầu tiên mà cậu đặt tên là La Hầu La (Rahula), nghĩa là “sự ràng buộc.”

    Tất Đạt Đa thấy cuộc sống nhung lụa vô nghĩa và cuối cùng đã quyết định bỏ trốn trên con ngựa Kiền Trắc với sự giúp đỡ của người thầy thân tín, Sắc Na. Hoàng tử đã thức dậy trong đêm, nhìn vợ con lần cuối, rồi lên ngựa, và phóng đi. Trước cổng thành, hoàng tử cắt đi mái tóc dày và giao lại chiếc áo choàng hoàng tử cho Sắc Na.

    3. Hành trình đầy gian khổ tìm kiếm chân lý cuộc đời của Tất Đạt Đa

    Sau khi rời khỏi cung điện, Tất Đạt Đa đi đến Vương Xá Thành, kinh đô của nước Ma Kiệt Đà thời Ấn Độ cổ, nơi người gặp một số vị sư đang thiền định trong các hang động trên núi. Hoàng tử trở thành đồ đệ của nhà tu hành A La La Ca Lam (Alara Klama), và được dạy cho cách tu luyện. Sau một thời gian tu luyện, hoàng tử không thấy tiến bộ hơn nữa nên theo học một nhà tu ẩn dật tên là Ưu Đà La La Ma Tử (Uddaka Ramaputta).

    Tuy nhiên, sau một thời gian, người lại nhận ra rằng không thể tiến bộ thêm nữa. Do đó, Tất Đạt Đa tham gia cùng với năm nhà tu hành ở trong rừng Benares để tu luyện bằng cách hành xác, ăn cực ít và trải nghiệm sự khắc khổ. Từ đó trở đi, người ta bắt đầu gọi hoàng tử Tất Đạt Đa dưới cái tên Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni), nghĩa là “nhà hiền triết của dòng họ Thích Ca”. Sau khi tu luyện như vậy được sáu năm, Thích Ca Mâu Ni phát hiện ra rằng ông chưa đạt được sự giác ngộ nhưng thân thể thường nhân của ông đã trở nên vô cùng suy kiệt.

    Vào một ngày khi ông đang thiền định, ông bất chợt nghe thấy cuộc trò chuyện giữa hai nhạc công trên một con thuyền. Người nhạc công dày dạn kinh nghiệm nói với người tập việc rằng các sợi dây của đàn nguyệt không nên quá căng hoặc quá chùng. Nếu dây được kéo quá căng, chúng sẽ đứt; và nếu được kéo quá trùng, âm thanh phát ra sẽ không đúng nữa.

    Ngay khi nghe được điều này, Thích Ca Mâu Ni chợt giác ngộ ra được đạo lý trung dung (đi đường giữa) và không đi sang phía cực đoan; sau đó ông rời đi để tản bộ. Trên đường đi, ông gặp một cô thôn nữ tên là Sujata, và cô tỏ ý muốn bố thí bánh gạo cho Thích Ca Mâu Ni; vốn giờ đã quá suy kiệt. Truyền thuyết kể lại rằng thân thể của Thích Ca Mâu Ni đã trở về bình thường ngay sau khi ăn nó.

    4. Vị Phật đầu tiên là ai?

    Vị Phật đầu tiên chính là Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài là vị Phật có thật trong lịch sử. Ngài chính là hoàng tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm của vương quốc Thích Ca, thuộc Ấn Độ ngày nay. Hoàng tử ra đời vào năm 624 TCN. Sau khi thấu rõ những cảnh đời “sinh lão bệnh tử” cũng như sự thanh thản của các vị tu sĩ, ngài đã quyết tâm bước vào con đường tu hành, trải qua muôn sự khó khăn, thử thách và đạt thành chính đạo, trở thành vị Phật đầu tiên đặt mầm móng cho Phật Giáo trở về sau.

    5. Thành đạo

    Năm người bạn đồng tu đã rời bỏ Ngài ra đi. Còn lại một mình, một cảnh cô độc, Ngài đi dọc theo bờ sông Ni-Liên-Thiền hướng về khu rừng cây rậm rạp khác cách xa làng mạc, ngày nay là Bồ Đề Đạo Tràng. Tại nơi đây vắng vẻ, không bóng người qua lại, Ngài chọn một gốc cây Pipphala to lớn, sau này người ta gọi cây đó là cây Bồ Đề. Ngài trải cỏ Kusha làm toạ cụ, quyết chí tham thiền và thề nếu không chứng đạo dù thịt nát xương tan Ngài cũng sẽ không rời khỏi cội cây này. Nhớ lại pháp thở khi còn nhỏ, bây giờ thử lại Ngài đạt được kinh nghiệm khi xưa, nếu không nói tâm mỗi lúc mỗi yên lặng hơn nhiều, vì thế Ngài nhất quyết chọn pháp này để tu cho đến khi giải thoát. Ngài bắt đầu chú tâm vào hơi thở, rồi buông thả hơi thở, quay vào trong tâm, lặng lẽ thiền định để tìm ra những chân lý cao sâu thâm diệu hầu giải quyết bài toán phức tạp sinh già bệnh chết.                        

     Sau 49 ngày đêm, đạo sĩ Cồ Đàm đã lần lượt nhập Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền và Tứ Thiền. Khi tâm Ngài hoàn toàn định tỉnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, bình tĩnh... hướng về tuệ giác liên quan đến sự nhớ lại những kiếp quá khứ của chính mình. Tất cả những gì xảy ra từ nhiều kiếp quá khứ hiện ra trong nhận thức của ngài như một cuốn phim trước mặt. Sanh ra, chết đi, tái sanh.... Hết đời này qua đời khác...Làm con người này, làm con người kia... như thế nào Ngài đều rõ biết. Đây là tuệ giác đầu tiên ngài chứng ngộ vào lúc canh Một của đêm thành đạo, gọi là Túc Mạng Minh.

     Phá tan được lớp vô minh, tự mình nhìn ra được vô số kiếp của mình. Bây giờ ngài mới hướng tâm về tri giác (hiểu biết) hiện tượng Sanh, Diệt của chúng sanh. Với huệ nhãn tinh khiết và siêu phàm, Ngài thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Ngài biết người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh...v.v... Tất cả đều trải qua diệt và sanh, sanh và diệt, tuỳ hành vi tạo tác hạnh nghiệp tốt xấu thiện ác của mỗi người mà thọ sanh luân hồi trong 6 cõi: trời, người, Atula, súc sanh, ngạ quỹ hay địa ngục... Như vậy với Thiên Nhãn Minh, ngài mục kích sự phân tán và sự cấu hợp trở lại của chúng sanh. Ngài chứng ngộ Thiên Nhãn Minh trong canh giữa của đêm thành đạo.

     Tiếp theo, ngài hướng tâm thanh tịnh về tuệ tri hiểu biết sự chấm dứt các pháp trầm luân. Ngài biết như thật "đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự diệt khổ, đây là con đường đưa đến diệt khổ". Ngài biết như thật "đây là những ô nhiễm (lậu hoặc), đây là nguyên nhân của các lậu hoặc, đây là sự diệt trừ những lậu hoặc, đây là con đường diệt trừ các lậu hoặc". Lần lượt ngài nhận thức tiếp : "Đây là phiền não, đây là nguyên nhân của phiền nào, đây là sự chấm dứt phiền não, đây là con đường đưa đến chấm dứt phiền não".. v.v... và. v.v... Nhận thức như thế, tâm Ngài thoát khỏi dục lậu (ô nhiễm của dục vọng), thoát khỏi hữu lậu (ô nhiễm của sự luyến ái đời sống) và thoát khỏi vô minh lậu (ô nhiễm của vô minh). Ngài chứng Lậu Tận Minh khi trời hừng sáng. Bấy giờ Ngài biết mình đã được giải thoát, Ngài nhận thức rằng: "Tái sanh đã chấm dứt, đời sống Phạm Hạnh đã viên mãn, việc cần làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa"  (Kinh Trung Bộ 1, Đại Kinh Saccaka, số 37, trg 541-543)

     Màn vô minh đã hoàn toàn giải toả và trí tuệ phát sanh. Đêm tối đã tan và ánh sáng tràn ngập đến. Đạo sĩ Cồ Đàm lúc đó 35 tuổi. Suốt 6 năm dài đăng đẳng, không có sự hỗ trợ từ bên ngoài, cũng không được sự hướng dẫn từ một năng lực siêu phàm nào, cô độc một mình, tự nỗ lực chiến đấu chính mình và tự mình thắp đuốc mò mẫm đi trong đêm tối. Kết quả đã tận diệt mọi ô nhiễm (lậu hoặc) chấm dứt mọi tiến trình tham ái và chứng ngộ thực tướng của vạn pháp, đã trở thành một vị Phật lịch sử.

      Đức Thích Ca Mâu Ni là một vị Phật lịch sử. Vì sau mấy ngàn năm, tư liệu sử sách vẫn còn để lại: 

              Cha: Đức Vua Tịnh Phạn nước Ca-Tỳ-La-Vệ (Bắc Ấn Độ)

              Mẹ: Hoàng hậu Mahãmaya (băng hà sau khi sanh Thái tử 7 ngày)

     Mẹ kế: Vương phi Mahã Pajãpati Gotami (là dì ruột nuôi Thái tử cho đến khi khôn lớn)

              Ngày sanh: Rằm tháng 4 Âm lịch tại vườn Lâm Tỳ Ni, nước Nepal           
    Thành hôn với công chúa Da-Du-Đa-La: Năm 16 tuổi

              Đến 29 tuổi có con đầu lòng là: La-Hầu-La

              Bỏ hoàng cung xuất gia: Ngày 8 tháng 2, vào năm 29 tuổi

              Thành đạo: Ngày 8 tháng 12. Năm 35 tuổi tại Buddha Gaya, Ấn Độ

              Hoằng pháp: 45 năm

              Nhập Niết Bàn: Rằm tháng 2, thọ 80 tuổi tại Kusinãrã, Ấn Độ.

     Hiện nay, vẫn còn các thánh tích (Tứ Động Tâm) ghi lại những nơi Đức Phật đã đi qua do các nhà khảo học người Anh tìm thấy. Như Lâm Tỳ Ni là nơi Đức Phật đản sanh. Bồ Đề Đạo Tràng (Buddha Gaya khoảng 10 cây số cách nhà ga xe lửa Gaya) là nơi Đức Phật thành đạo. Vườn Lộc Giả, bây giờ là Sarnath, Ấn Độ, là nơi Đức Phật chuyển pháp luân đầu tiên, giảng bài kinh Tứ Diệu Đế và Vô Ngã Tướng độ cho 5 anh em Kiều Trần Như đắc quả A-La-Hán. Nơi Đức Phật diệt độ là Kusinãrã (bây giờ gọi là Kasi, khoảng 40 cây số cách nhà ga Gorakhpur, Ấn Độ).

    6. Truyền rộng Phật Pháp, từ bi cứu độ chúng sinh 

    Đức Phật Thích Ca được tôn vinh là Giáo chủ của tín đồ Phật giáo ở cõi Ta Bà này. Cuộc đời của Ngài cũng có một huyền thoại rất hy hữu. Ngài đã để lại một kho tàng giáo lý giá trị.  Đạo Phật có khoảng trên 800 triệu tín đồ trên thế giới (hơn 7 tỷ người) và đạo Phật cũng có hệ thống nghi lễ hẵn hoi.

     Như vậy, một mặt đạo Phật cũng có thể được xem như là một tôn giáo, mà hễ tôn giáo thì người Giáo chủ ấy có nhiều huyền thoại về cuộc đời cho nên chúng ta mới có Đức Phật Huyền Thoại. Nhưng ngược lại trong kinh điển Phật giáo để lại người ta thấy rằng Ngài không hề nhận mình là Giáo Chủ mà chỉ là người Thầy trao truyền những phương pháp tu tập, những kinh nghiệm mà Ngài đã trải qua cho những người muốn tu tập để thoát khổ giải thoát, cho nên người ta tôn xưng Ngài là vị Phật lịch sử duy nhất trên cõi đời này. Những danh hiệu cao quý khác do tín đồ của Ngài cung kính tôn xưng mà thôi.

      Nhân ngày lễ Phật Đản chúng ta nghĩ tưởng về người khai sáng ra đạo Phật qua 2 hình ảnh theo 2 truyền thống: Lịch Sử và Huyền Thoại. Truyền thống nào cũng mang lợi lạc cho chúng sanh.  

      Chúng ta biết rằng Đức Phật khi còn tại thế đã không nhận mình là thần linh, là thượng đế, nên Ngài không ban phát phép lành hay cứu rổi cho bất cứ ai. Ngài chỉ để lại một học thuyết mà qua sự tự tu, tự chứng của Ngài, cho những ai tin và theo học. Học thuyết đó giá trị chủ yếu ở các khái niệm thiện tâm, nhân ái và bình đẳng. Đó là về mặt cộng đồng, xã hội. Về mặt tâm lý Ngài để lại một kinh nghiệm tu tập để con người thoát khỏi sự kiềm toả của sự đau khổ để được sống trong trạng thái an lạc hạnh phúc gọi là Niết Bàn. 

    Lòng từ bi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ban trải khắp cứu độ muôn loài, trí tuệ của Ngài rực sáng để bình lặng trước cuộc đời. Như vậy danh hiệu của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni gồm cả hai khía cạnh Từ bi và Trí tuệ. Đức Phật nào cũng sẽ có đủ hai phần như vậy. Cả cuộc đời của Ngài là tấm gương sáng về Từ bi và Trí tuệ. Là đệ tử của Phật, chúng ta phải thừa hưởng được gia tài Ngài để lại cho chúng sinh, đó không phải là kho báu thế gian thông thường mà chính là Từ bi và Trí tuệ. Gia tài ấy mỗi chúng ta đều có nhưng vì chúng ta quên mất không biết sử dụng nên chúng ta vẫn mãi quanh quẩn trong vòng khổ luân hồi mà thôi!

    Tác giả: Thanh Ngân

    Đánh giá bài viết
    Chia sẻ bài viết
    Xếp hạng: 4.5 · 2 đánh giá
    Bình luận

    Tin cùng chuyên mục

    Sự Tích Về Ngài Quan Thế Âm Bồ Tát và Lợi ích khi niệm danh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-10-23 15:05:21.0
    Khi niệm danh hiệu ngài Quan Thế Âm thì Không còn bị những bệnh nan y: Dù có mắc chứng bệnh nan y cùng vô số bệnh khác đi nữa, bạn cũng sẽ được khỏi. Vì trong Ngũ Bách Danh có tán thán đức hiệu ngài: “Không bị chết vì bệnh ác triền thân”.
    10 Cách biến khó khăn thành trợ thủ của HT Thích Thiền Tâm
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-10-22 05:54:15.0
    Trong mười điều này, luận Bảo Vương Tam Muội đã dùng mười hạnh không cầu để phá trừ. Thế thì trong phước có họa, trong họa có phước, trong thông có ngại, trong ngại có thông.
    Dấu hiệu của hết phước và 6 Hành vi làm hao tổn phước
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-10-15 07:35:56.0
    Ông Bà ta cũng dạy "Giàu lên dễ sinh tật" và nếu quan sát cuộc đời họ thì không lâu sau họ sẽ suy sụp từ tinh thần đến vật chất và nhu cầu của cuộc sống, ngoài việc sinh tật ra các dấu hiệu khác của mất phước
    25 Đại nguyện của bồ tát Văn Thù Sư Lợi
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-10-15 06:51:54.0
    Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát còn có tên gọi khác là Diệu Đức. Diệu Đức có nghĩa là mọi Đức đều tròn đầy. Tương truyền rằng khi xưa Ngài là người con thứ ba của vua Vô Trách Nhiệm có tên là Thái tử Vương Chúng.
    Xá lợi phật là gì? Ý nghĩa xá lợi Phật, Xá lợi - bí ẩn chưa được giải mã
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-10-10 07:21:39.0
    Xá Lợi Phật và Chư Bồ Tát là bảo vật thiêng liêng vô giá được tích tụ từ công đức thù thắng cuả Thiền định , đạt đến sự vi diệu cuả Đaị định tam muôị – Đức Phật và chư Bồ tát vì bản nguyện độ sanh , đã phát Đại thừa tâm vô cùng dõng mãnh , tận trừ moị cấu hoặc phiền não đạt đến thanh tịnh tuyệt đỉnh
    Nhục thân nghĩa là gì? Bí ẩn tượng xác ướp của hai vị sư ngồi thiền ở chùa Đậu
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-10-09 07:28:33.0
    Tương truyền, hai vị thiền sư tu hành vào thế kỷ 17, là trụ trì tại chùa Đậu. Hai Ngài Vũ Khắc Minh - Vũ Khắc Trường là hai chú cháu cũng là hai thầy trò. Cả hai vị có căn duyên đặc biệt, đều sớm lìa xa đời sống thế tục để xuất gia tu hành, lấy pháp hiệu Tự Đạo Chân - Tự Đạo Tâm. Suốt cuộc đời, hai Ngài gìn giữ lối sống thanh đạm, mỗi ngày chỉ ăn một bữa cơm rau vào chính ngọ.
    Tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa cờ ngũ sắc của Phật giáo
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-10-05 06:03:51.0
    Lá cờ được chia thành sáu phần hay sáu sọc theo chiều dọc, tượng trưng cho sáu thể dạng của chúng sinh, tức Lục thú hay Lục đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, A-tu-la và thiên). Sọc thứ sáu, tổng hợp của năm màu, tượng trưng cho sự hòa đồng, không phân biệt giữa tất cả chúng sinh.
    Ananda đệ nhất thị giả của Đức Phật, đọc để hiểu hơn về sự vĩ đại của Ngài
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-09-29 05:29:20.0
    Ngài Anan có bốn Như ý đức của một vị Chuyển luân thánh vương, là sao? Có nghĩa là khi mà người ta gặp mặt Ngài người ta vui, mà chưa gặp mặt Ngài người ta trông ngóng gặp cho bằng được, khi gặp mặt Ngài rồi Ngài nói chuyện người ta nghe cũng thích, mà người ta ngồi người ta nhìn Ngài người ta cũng đã thấy thương.
    Cách Giải Trừ Oán Thù Của Oan Gia Trái Chủ mầu nhiệm
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-09-23 06:11:25.0
    Chúng ta đời đời kiếp kiếp học Phật tu hành không được thành tựu, không có biện pháp thoát khỏi luân hồi, là vì có oan gia trái chủ đến gây phiền phức, làm ma chướng. Người không học phật, không biết hóa giải oán thù, vì vậy oan oan tương báo khổ không kham nổi.
    Nét đẹp của người tu tại gia
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-09-05 22:31:50.0
    Người tu tại gia có thể đem lại cho mình, cho những người thân sự bình yên tuyệt đối trong tâm hồn, sự thoải mái vô cùng qua cung cách cư xử trong từng lời nói, việc làm cũng như ý nghĩ. Đó là ý nghĩa vi diệu tuyệt vời “Xuân trong nét đẹp của người tu tại gia”, ngay từ những điều vô cùng giản dị trong cuộc sống hàng ngày.
    Chia sẻ