25 Đại nguyện của bồ tát Văn Thù Sư Lợi

15/10/2021 06:51
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát còn có tên gọi khác là Diệu Đức. Diệu Đức có nghĩa là mọi Đức đều tròn đầy. Tương truyền rằng khi xưa Ngài là người con thứ ba của vua Vô Trách Nhiệm có tên là Thái tử Vương Chúng.

    Là vị Bồ tát tiêu biểu cho trí tuệ, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát thường được miêu tả với dáng dấp trẻ trung ngồi kiết già trên một chiếc bồ đoàn bằng hoa sen. Biểu tượng đặc thù của Ngài là trên tay phải, dương cao lên khỏi đầu, là một lưỡi gươm đang bốc lửa. Cùng Lịch Vạn Niên 365 tìm hiểu Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là ai? và 25 Đại nguyện của bồ tát Văn Thù Sư Lợi nhé.

    I. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là ai?

    Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát còn có tên gọi khác là Diệu Đức. Diệu Đức có nghĩa là mọi Đức đều tròn đầy. Tương truyền rằng khi xưa Ngài là người con thứ ba của vua Vô Trách Nhiệm có tên là Thái tử Vương Chúng. 

    Vị thái tử này thường xuyên cúng dường Phật Bảo Tạng và phát nguyện độ sinh nên được phong hiệu là Văn Thù Sư Lợi. Sau khi Phật Bảo Tạng thọ ký cho Ngài phải trải vô lượng hằng hà sa số kiếp về sau, thì Ngài sẽ thành Phật ở thế giới thanh tịnh Vô Cấu Bảo Chi thuộc về bên phương Nam, hiệu là Phật Văn Thù. 

    Bồ tát Văn Thù Sư Lợi là nhân vật thân cận nhất của Đức Phật Thích Ca. Ngài xuất hiện hầu như trong tất cả các kinh điển quan trọng của Phật giáo Đại thừa như: Hoa Nghiêm, Thủ Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Duy Ma Cật…

    II. Sự tích Bồ tát Văn Thù Sư Lợi

    Đức Văn Thù Sư Lợi, khi chưa thành đạo thì Ngài là con thứ ba của vua Vô Tránh Niệm, tên là Vương Chúng Thái Tử. Nhờ phụ vương khuyên bảo, nên Ngài phát tâm cúng dường Phật Bảo Tạng và Tăng chúng trọn ba tháng.

    Lúc ấy, có quan Đại Thần là Bảo Hải thấy vậy thì khuyên rằng: “ Nay Điện hạ đã có lòng làm sự phước đức, tạo nghiệp thanh tịnh, nên vì hết thảy chúng sanh mà cầu đặng các món trí huệ, và đem công đức ấy hồi hướng về đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thì tốt hơn là mong cầu mọi sự phước báu nhỏ nhen”.

    1- Vương Chúng Thái Tử nghe quan Đại thần khuyến như vậy, thì liền chấp tay mà thưa với Phật rằng: “ Bạch Đức Thế Tôn! Công đức tôi cúng dường Phật Tăng và những hạnh nghiệp tu tập thanh tịnh của tôi đó, nay xin hồi hướng về Đạo Vô Thượng Bồ Đề, nguyện trải hằng sa kiếp tu hạnh Bồ Tát, đặng hóa độ chúng sanh, chớ tôi chẳng vì lợi ích một mình mà cầu mau chứng đạo quả.

    2- Tôi nguyện hóa độ hết thảy mọi loài chúng sanh ở các thế giới trong mười phương đều phát tâm cầu đạo Vô Thượng Chánh Giác, giữ gìn tâm Bồ Đề cho bền chắc, và khuyến hóa theo môn lục độ (lục độ là: 1- bố thí, 2- trì giới, 3- nhẫn nhục, 4- tinh tấn, 5- thiền định, 6- trí huệ).

    3- Tôi nguyện giáo hóa vô số chúng sanh ở các thế giới đều đặng thành Phật thuyết Pháp trước tôi, và trong khi thuyết Pháp, làm sao cho tôi đều xem thấy tất cả.

    4- Tôi nguyện trong khi tu Bồ Tát Đạo, làm đặng vô lượng việc Phật, và sanh ra đời nào cũng tu theo Đạo ấy cả.

    5- Bao nhiêu chúng sanh của tôi dạy dỗ đều đặng thanh tịnh, như các người đã có tu phép thiền định ở cõi Phạm Thiên, tâm ý không còn điên đảo. Nếu đặng các kẻ chúng sanh như vậy sanh về cõi tôi, thì khi ấy tôi mới thành đạo.

    6- Tôi nguyện đem các món hạnh nguyện mà cầu đặng cõi Phật trang nghiêm và nguyện hết thảy các cõi Phật đều hiệp chung lại thành một thế giới của tôi.

    Đường giới hạn xung quanh trong cõi ấy đều dùng những chất: Vàng, bạc, ngọc lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu và mã não, mà xây đắp cho cao lên đến cõi Phạm Thiên, còn mặt đất thì toàn là ngọc lưu ly tất cả.

    Trong cõi ấy không có các món đất, cát, bụi bặm, chông gai, dơ dáy, và không có những sự cảm xúc, thô ác, và xấu xa, cũng không có những người đàn bà và tên hiệu của người đàn bà

    Hết thảy chúng sanh đều hóa sanh, chớ không phải bào thai trong bụng mẹ như các cõi khác, và hằng tu tập các pháp thiền định, vui đẹp tự nhiên, chớ không cầu phải ăn uống những đồ vật chất.

    7– Trong cõi tôi không có người Tiểu thừa, Thinh Văn và Duyên Giác. Thảy đều là các bực Bồ Tát, căn tánh cao thượng, tâm trí  sáng suốt, người nào cũng đã xa lìa mọi sự tham lam, hờn giận, ngu si, và đã tu đặng các môn phạm hạnh cả.

    8– Trong khi chúng sanh sanh về cõi tôi, thì tự nhiên đủ tướng mạo Tỳ khưu, đều có cạo tóc và đắp y một cách chỉnh đốn cả.

    9– Chúng sanh trong cõi tôi muốn ăn, thì tự nhiên có bình bát thất bảo cầm ở nơi tay và đủ các món đồ ăn ngon đẹp đầy bát. Khi ấy lại nghĩ rằng: Chúng ta chớ nên dùng những đồ này, nguyện đem bố thí, trước hết dâng cúng cho các Đức Phật, Bồ Tát, Thinh Văn, và Duyên Giác, sau nữa thì chúng sanh nghèo hèn và các loài ngạ quỷ đói khát đều dùng no đủ. Còn phần chúng ta thì nên tu pháp thiền định, hưởng sự vui đẹp tức là món ăn.

    10– Mọi người suy nghĩ như vậy, liền đặng pháp Tam muội, gọi là “Bất khả tư nghị hạnh”, có sức thần thông, dạo đi tự tại, không có sự gì ngăn ngại tất cả. Độ trong giây phút, mọi người được dạo khắp thế giới mà cúng dường Phật, bố thí và diễn thuyết các pháp cho chúng sanh nghe rồi trở về nước thì vừa đúng bửa ăn.

    11– Tôi nguyện trong thế giới của tôi không có tám món chướng nạn và các sự khổ não, và cũng không có những người phá hư giới luật.

    12– Tôi nguyện trong thế giới ấy có nhiều món châu báu rất lạ lùng và không cần gì phải dùng đến ánh sáng của mặt trời và mặt trăng. Các vị Bồ Tát tự nhiên xung quanh thân thể có hào quang sáng chói, soi khắp các nơi, thường chiếu luôn không có ngày đêm, chỉ xem lúc nào bông nở thì cho là ban ngày, lúc nào bông xếp lại cho là ban đêm mà thôi. Còn khí hậu thường điều hòa, không nóng quá cũng không lạnh quá.

    13-Nếu các vị Bồ Tát nào bổ xứ làm Phật các cõi khác, thì trước hết ở nơi cõi tôi, rồi đến cung Trời Đâu xuất, sau mới giáng sinh đến cõi ấy.

    14– Tôi nguyện hóa độ chúng sanh đều thành Phật hết rồi, tôi mới hiện lên trên hư không mà nhập diệt.

    15-Trong lúc tôi nhập diệt, thì có nhiều món âm nhạc tự nhiên kêu vang đủ pháp mầu nhiệm và các vị Bồ Tát nghe đều tỏ đặng các lẽ huyền diệu.

    16-Thưa Đức Thế Tôn! Tôi nguyện khi làm Bồ Tát mà dạo trong các cõi Phật, xem thấy những thức trang nghiêm những châu báu, những hình trạng, những xứ sở, và những hạnh nguyện của chư Phật, thì tôi đều cầu đặng thành tựu tất cả.

    17– Tôi nguyện các vị Đẳng Giác Bồ Tát đều ở trong cõi tôi mà đợi đến thời kỳ sẽ bổ xứ làm Phật, chớ không thọ sanh các cõi nào khác nữa. Nếu các vị nào muốn đến cõi khác thành Phật mà hóa độ chúng sanh, thì tùy theo ý nguyện.

    18-Thưa Đức Thế Tôn! Trong khi tôi tu đạo Bồ Tát, nguyện đặng cõi Phật rất tốt đẹp nhiệm mầu. Các vị Bồ Tát phát Bồ Đề tâm, tu Bồ tát hạnh, mà đặng bực bổ xứ thành Phật, đều sanh về trong cõi tôi cả.

    19-Thưa Đức Thế Tôn! Tôi nguyện đặng như vậy, tôi mới thành Phật, và nguyện ngồi khoanh chưn trên tọa Kim Cang ở dưới cây Bồ Đề, trong giây lát chứng thành Chánh Giác.

    20– Khi thành Phật rồi, tôi biến hóa ra các vị hóa Phật và các vị Bồ Tát, nhiều như số các sông Hằng, đặng dạo các thế giới mà hóa độ chúng sanh, giảng dạy các Pháp nhiệm mầu và khiến cho hết thảy nghe Pháp rồi đều phát Bồ Đề Tâm, cho đến khi thành đạo cũng không đổi dời tâm trí.

    21– Khi tôi thành Phật rồi, chúng sanh ở trong các cõi nếu thấy đặng tướng tốt của tôi, hằng in nhớ trong tâm luôn luôn, cho đến khi thành đạo cũng không quên.

    22– Tôi nguyện chúng sanh trong cõi tôi, người nào cũng đủ căn thân toàn vẹn, không hư thiếu món gì. Nếu các vị Bồ Tát muốn xem thấy tướng tôi, hoặc nằm, hoặc ngồi, hoặc đứng, hoặc đi, thì đều thấy đặng cả. Khi thấy rồi, liền phát Bồ Đề tâm, và lại trong lúc thấy tôi, những sự hoài nghi về đạo pháp tự nhiên hiểu biết đặng cả, không cần đợi tôi giải quyết nữa.

    23– Tôi nguyện khi tôi thành Phật rồi, thì tôi đặng thọ mạng vô cùng vô tận, không kể xiết. Còn các vị Bồ Tát trong cõi tôi cũng đặng sống lâu như vậy.

    24– Trong lúc tôi thành Phật, có vô số Bồ Tát đủ tướng mạo Tỳ khưu, người nào cũng cạo đầu, đắp y, cho đến khi nhập Niết Bàn thì những tóc không khi nào để mọc dài, và những y cũng không khi nào đổi  bận như đồ người thế tục.

    Đức Bảo Tạng Như Lai nghe mấy lời nguyện rồi, liền thọ ký cho Vương Chúng Thái Tử rằng: “Hay thay! Hay thay! Ngươi là người Đại Trượng phu, trí huệ sáng suốt, tỏ biết mọi lẻ, phát nguyện rất lớn và rất khó khăn, làm những việc công đức rất rộng sâu, không thể nghĩ bàn đặng. Chính ngươi là bậc trí huệ nhiệm mầu, mới làm đặng mọi sự như vậy.

    Bởi ngươi vì hết thảy chúng sanh mà phát thệ nguyện rất nặng lớn và cầu đặng cõi Phật rất trang nghiêm như thế, nên ta đặt hiệu ngươi là: Văn Thù Sư Lợi. Trải vô lượng hằng sa số kiếp về sau, ngươi sẽ thành Phật hiệu là: Phổ Hiền như Lai ở thế giới rất đẹp đẽ, tên là Thanh Tịnh Vô Cấu Bảo Chi, thuộc về bên phương Nam.

    Tất cả mọi sự trang nghiêm của ngươi ước ao thảy đều thỏa mãn.

    Này Văn Thù Sư Lợi, từ rày sắp về sau, trải hằng sa kiếp, ngươi tu Bồ Tát đạo, trồng các căn lành, và tâm trí thanh tịnh. Ngươi hằng vì chúng sanh mà giáo hóa cho chúng nó đều dẹp trừ được các món tâm bịnh, vậy nên chúng nó đều xưng ngươi là một ông Thầy thuốc hay, có một món thuốc thần để chữa lành được bịnh phiền não.

    Vương chúng Thái Tử thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Nếu sự thệ nguyện của tôi đặng như lời Ngài thọ ký đó, thì tôi xin cả thế giới đều vang động và các Đức Phật mười phương đều thọ ký cho tôi nữa”.

    Vương chúng Thái Tử thưa rồi, đương cúi đầu lễ Phật, tự nhiên giữa hư không có các thứ tiếng âm nhạc vang rền diễn ra các pháp mầu nhiệm, và có các thứ bông tươi tốt thơm tho rải xuống như mưa.

    Các vị Bồ Tát ở các thế giới khác xem thấy như vậy, liền hỏi các Đức Phật rằng: “Do nhân duyên gì mà có điềm lành như thế?”

    Các Đức phật nói rằng: ”Nay Chư Phật ở mười phương đều thọ ký cho Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát sau sẽ thành Phật, nên hiện ra điềm lành ấy”.

    Vương chúng Thái Tử thấy vậy, lòng rất vui mừng, liền đãnh lễ Phật, rồi ngồi nghe thuyết Pháp.

    Từ đó sắp sau, Thái Tử mạng chung, bào thai ra các thân khác và đời khác, kiếp nào cũng giữ gìn bản thệ, quyết chí tu hành, học đạo Đại thừa, làm hạnh Bồ tát, hóa độ chúng sanh đều thành Phật đạo, mà cầu cho thỏa mãn những sự cầu nguyện của mình.

    III. 25 Đại nguyện của bồ tát Văn Thù Sư Lợi

    1. Công đức tôi cúng dường Phật Tăng và những hạnh nghiệp tu tập thanh tịnh của tôi đó, nay xin hồi hướng về đạo Vô thượng Bồ đề, nguyện trải hằng sa kiếp tu hạnh Bồ tát, đặng hóa độ chúng sanh, chớ tôi chẳng vì lợi ích một mình mà cầu mau chứng đạo quả.

    (Nguyện thứ nhất)
    Phật Tăng thành niệm cúng dường 
    Tôi nay xin nguyện hướng phương Bồ đề
    Chúng sanh hóa độ tiến tu
    Đời đời kiếp kiếp chẳng cho riêng mình

    2. Tôi nguyện hóa độ hết thảy mọi loài chúng sanh ở các thế giới trong mười phương đều phát tâm cầu đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, giữ gìn tâm Bồ đề cho bền chắc, và khuyến hóa theo môn Lục độ.

    (Nguyện thứ hai)
    Một lòng hóa độ chúng sanh
    Mười phương vô thượng phát danh niệm cầu
    Chánh đẳng chánh giác là đầu
    Chuyển theo Lục độ giữ sao cho bền

    3. Tôi nguyện giáo hóa vô số chúng sanh ở các thế giới đều đặng thành Phật thuyết pháp trước tôi, và trong khi thuyết pháp, làm sao cho tôi đều xem thấy tất cả.

    (Nguyện thứ ba)
    Hằng hà vô số chúng sanh
    Nguyện xin giáo hóa cho thành Phật tâm
    Được thành Phật trước tôi luôn
    Để tôi được thấy chứng minh nhiệm mầu

    4. Tôi nguyện trong khi tu đạo Bồ tát đạo, làm đặng vô lượng việc Phật, và sanh ra đời nào cũng tu theo đạo ấy cả.

    (Nguyện thứ bốn)
    Nguyện cho ức kiếp về sau
    Đạo Vô Lượng Phật kiếp nào cũng theo

    5. Bao nhiêu chúng sanh của tôi dạy dỗ đều đặng thanh tịnh, như các người đã có tu phép thiền định ở cõi Phạm Thiên, tâm ý không còn điên đảo. Nếu đặng các kẻ chúng sanh như vậy sanh về cõi tôi, thì khi ấy tôi mới thành đạo.

    (Nguyện thứ năm)
    Chúng sanh dù có bao nhiêu
    Phép tu tôi dạy sẽ vào Phạm Thiên
    Ý tâm hết mọi đảo điên
    Rồi sau cùng đạt đạo Thiền cõi tôi

    6. Tôi nguyện đem các món hạnh nguyện mà cầu đặng cõi Phật trang nghiêm và nguyên hết thảy các cõi Phật đều hiệp chung lại thành một thế giới của tôi.
    Đường giới hạn xung quanh trong cõi ấy đều dùng những chất : vàng, bạc, ngọc lưu li, pha lê, xa cừ, xích châu và mã não, mà xây đắp cho cao lên đến cõi Phạm Thiên, còn mặt đất thì toàn là ngọc lưu ly tất cả.

    (Nguyện thứ sáu)
    Lưu ly vàng ngọc khắp nơi
    Đem về cõi Phạm đắp bồi xây lên
    Nguyện đem đủ món hạnh nguyên
    Ngàn muôn cõi Phật hợp duyên một nhà

    7. Trong cõi ấy không có các món đất cát, buị bặm, chông gai, dơ dáy, và không có những sự cảm xúc, thô ác, và xấu xa, cũng không có những người đàn bà và tên hiệu của người đàn bà.
    Hết thảy chúng sanh đều hóa sanh, chớ không phải bào thai trong bụng mẹ như các cõi khác, và hằng tu tập các pháp thiền định, vui đẹp tự nhiên, chớ không cần phải ăn uống những đồ vật chất.

    (Nguyện thứ bẩy)
    Không còn thô ác xấu xa
    Chúng sinh hết thấy đều là hóa sinh
    Chẳng còn thai nghén nhọc nhằn
    Đàn bà không có không sanh xứ này
    Định thiền, ai cũng tươi cười
    Chắng cần ăn uống như người thế gian

    8. Trong cõi tôi không có người Tiểu thừa, Thanh văn và Duyên giác. Thảy đều là các bực Bồ tát, căn tánh cao thượng, tâm trí sáng suốt, người nào cũng đã xa lìa mọi sự tham lam, hờn giận, ngu si, và đã tu đặng các môn phạm hạnh cả.

    (Nguyện thứ tám)
    Tiểu thừa cùng với Thanh văn
    Cùng là Duyên giác không còn xứ tôi
    Chỉ còn Bồ tát mà thôi
    Tâm linh sáng suốt, tuyệt vời tánh căn
    Xa lìa tất cả tham lam
    Ngu si hờn giận mọi phàm đều không

    9. Trong khi chúng sanh sanh về cõi tôi, thì tự nhiên đủ tướng mạo Tỳ khưu, đều có cạo tóc và đắp y một cách chỉnh đốn cả.

    (Nguyện thứ chín)
    Sinh ra tướng mạo tuấn anh
    Cõi tôi ai cũng đặng hình Tỳ khưu
    Cạo đầu cắt tóc đủ điều
    Đắp y đốn chỉnh, phiêu diêu mặt mày

    10. Chúng sanh trong cõi tôi muốn ăn, thì tự nhiên có bình bát thất bảo cầm ở nơi tay và đủ các món đồ ăn ngon đẹp đầy bát. Khi ấy lại nghĩ rằng : Chúng ta chớ nên dùng những đồ này, nguyện đem bố thí ; trước hết dâng cúng cho các Đức Phật, Bồ tát, Thanh văn, và Duyên giác, sau nữa thì chúng sanh nghèo hèn và các loài Ngạ quỉ đói khát đêu dùng no đủ. Còn phần chúng đẹp, tức là món ăn.

    (Nguyện thứ mười)
    Bát bình thất bảo cầm tay
    Thức ăn ngon ngọt đủ đầy được dâng
    Trong lòng thì lại nghĩ rằng
    Đồ ăn trước phải đưa lên Phật đài
    Thanh văn, Duyên giác bên ngoài
    Chúng sanh, ngạ quỷ, đều vời sẻ chia

    11. Mọi người suy nghĩ như vậy, liền đặng pháp Tam muội, gọi là “Bất khả tư nghị hạnh”. Có sức thần thông, dạo đi tự tại, không có sự gì ngăn ngại tất cả. Độ trong giây phút, mọi người được dạo khắp các thế giới mà cúng dường Phật, bố thí và diễn thuyết các pháp cho chúng sanh nghe rồi trở về nước thì vừa đúng bữa ăn.

    (Nguyện thứ mười một)
    Pháp «Nghị hạnh bất khả tư »
    Thần thông đưa xuống, ban cho mọi người
    Phút giây thư thái tuyệt vời
    Tự do đi lại dạy bài tịnh tu
    Dạy rồi bố thí sẻ chia
    Dạo xong thuyết pháp mới về bữa ăn

    12. Tôi nguyện trong thế giới của tôi không có tám món chướng nạn và các sự khổ não, cũng không có những người phá hư giới luật.

    (Nguyện thứ mười hai)
    Nguyện trong thế giới tôi sanh
    Không còn chướng nạn cùng bần khổ đau
    Giới luật đều giữ chăm chu
    Không ai sơ suất phá hư một bài

    13. Tôi nguyện trong thế giới ấy có nhiều món châu báu rất lạ lùng và không cần gì phải dùng đến ánh sáng của mặt trời và mặt trăng. Các vì Bồ tát tự nhiên xung quanh thân thể có hào quang sáng chói, soi khắp các nơi, thường chiếu luôn không có ngày đêm, chỉ xem lúc nào bông nở thì cho là ban ngày, lúc nào bông xếp lại cho là ban đêm mà thôi. Còn khí hậu thường điều hòa, không nóng quá và không lạnh quá.

    (Nguyện thứ mười ba)
    Nguyện không cần đến mặt trời
    Ban đêm cũng chẳng đoái hoài mặt trăng
    Hào quang Bồ tát quanh thân
    Đủ đầy ánh sáng chiếu luôn đêm ngày
    Khi bông hoa nở là ngày
    Khi hoa xếp lại là trời về đêm
    Điều hòa khí hậu an nhiên
    Không quá nóng lạnh mọi miền mọi năm

    14. Nếu có vị Bồ tát nào bỏ xứ làm Phật các cõi khác, thì trước hết ở nơi cõi tôi, rồi đến cung trời Đâu suất, sau mới giáng sanh đến cõi ấy.

    (Nguyện thứ mười bốn)
    Vị nào Bồ tát muốn thăm
    Ngao du xứ khác độ thêm cho người
    Thì xin trước hãy ở đây
    Qua cung Đâu suất, sau rồi hãy đi

    15. Tôi nguyện hóa độ chúng sanh đều thành Phật hết rồi, tôi mới hiện lên hư không mà nhập diệt.

    (Nguyện thứ mười lăm)
    Một lời tâm nguyện xin ghi
    Là tôi hóa độ đến khi mọi người
    Chúng sanh thành Phật cả rồi
    Tới chừng ngày đó mới rời bỏ đi

    16. Trong lúc tôi nhập diệt thì có nhiều món âm nhạc tự nhiên kêu vang đủ pháp mầu nhiệm và các vị Bồ tát nghe đều tỏ đặng các lẽ huyền diệu.

    (Nguyện thứ mười sáu)
    Hư không nhập diệt đến thì
    Xin cho nhạc điệu lâm li vang trời
    Nhiệm mầu hạnh pháp sáng ngời
    Bầu đoàn Bồ Tát chứng thời diệu linh

    17. Thưa Đức Thế Tôn ! Tôi nguyên khi làm Bồ tát mà dạo trong các cõi Phật, xem thấy những thức trang nghiêm những châu báu, những hình trạng, những xứ sở, và những hạnh nguyện của Chư Phật, thì tôi đều cầu đặng thành tựu tất cả.

    (Nguyện thứ mười bẩy)
    Kính thưa Tối Thượng Thế Tôn
    Khi tôi hành đạo bốn phương cõi trần
    Thấy chư Phật rất nghiêm minh
    Đều lo hạnh nguyện tôi xin một lời
    Nguyện cho Chư Phật mọi nơi
    Cả đều thành tựu, xin Người chứng cho

    18. Tôi nguyện các vị Đẳng giác Bồ tát đều ở trong cõi tôi mà đợi đến thời kỳ sẽ bổ xứ làm Phật, chớ không thọ sanh các cõi nào khác nữa. Nếu có vị nào muốn đến cõi khác thành Phật mà hóa độ chúng sanh, thì tùy theo ý nguyện.

    (Nguyện thứ mười tám)
    Nguyện cho các vị tiến tu
    Đến khi thành Phật đều về cõi Thiên
    Không còn sanh lại cõi trần
    Trừ ai đã nguyện dấn thân Ta Bà

    19. Thưa Đức Thế Tôn ! Trong khi tôi tu đạo Bồ tát, nguyện đặng cõi Phật rất tốt đẹp nhiệm mầu. Các vị Bồ tát phát Bồ đề tâm, tu Bồ tát hạnh, mà đặng dự bổ xứ thành Phật, đều sanh về trong cõi tôi cả.

    (Nguyện thứ mười chín)
    Thế Tôn, tôi nguyện trước tòa
    Khi tôi thành Phật được qua Đất Người
    Thì xin tất cả quanh tôi
    Ai tu thành Phật đều rời qua đây

    20. Thưa Đức Thế Tôn ! Tôi nguyện đặng như vậy, tôi mới thành Phật, và nguyện ngồi khoanh chân trên tọa Kim cang ở dưới cây Bồ đề, trong giây lát chứng thành chánh giác.

    (Nguyện thứ hai mươi)
    Thế Tôn đại đức cao vời
    Khi tôi thành Phật nguyện ngồi dưới cây
    Bồ đề, dưới bóng Phật đài
    Đặng thành chánh giác, xin Người chứng minh

    21. Khi thành Phật rồi, tôi biến hóa Phật và các vị Bồ tát, nhiều như số cát sông Hằng, đặng dạo các thế giới mà hóa độ chúng sanh, giảng dạy các phép nhiệm mầu và khiến cho hết thảy nghe pháp rồi đều phát Bồ đề tâm, cho đến khi thành đạo cũng không đổi dời tâm trí.

    (Nguyện thứ hai mươi mốt)
    Khi tôi chức Phật đã thành
    Bao nhiêu Bồ tát, nguyện truyền chức năng
    Dù nhiều như cát sông Hằng
    Cũng xin hóa độ chúng sanh tận lòng
    Bồ đề chánh giác hòa đồng
    Người người thành Phật, Pháp không đổi dời

    22. Khi tôi thành Phật rồi, chúng sanh ở trong các cõi nếu thấy đặng tướng tốt của tôi, hằng in nhớ trong tâm luôn luôn, cho đến khi thành đạo cũng không quên.

    (Nguyện thứ hai mươi hai)
    Khi tôi đã thành Phật rồi
    Chúng sanh mà thấy tướng tôi một ngày
    Là trong tâm nhớ cả đời
    Tới khi thành đạo, học bài không quên

    23. Tôi nguyện chúng sanh trong cõi tôi, người nào cũng đủ căn thân toàn vẹn, không hề thiếu món gì. Nếu các vị Bồ tát muốn xem thấy tướng tôi, hoặc nằm, hoặc ngồi, hoặc đứng, hoặc đi, thì đều thấy đặng cả. Khi thấy rồi, liền phát Bồ đề tâm, và lại trong lúc thấy tôi, những sự hoài nghi về đạo pháp tự nhiên đều biến đặng cả, không cần phải đợi tôi giải quyết nữa.

    (Nguyện thứ hai mươi ba)
    Xin cho sanh chúng căn thân
    Vẹn toàn đầy đủ, chẳng quên món gì
    Nằm, ngồi, hoặc đứng, hoặc đi
    Bồ đề tâm vững, hoài nghi bỏ rời
    Tự học không cần đến tôi
    Thấy tôi là đủ một đời thành công

    24. Tôi nguyện khi tôi thành Phật rồi, thì tôi đặng thọ mạng vô cùng vô tận, không kể xiết. Còn các vị Bồ tát trong cõi tôi cũng đặng sống lâu như vậy.

    (Nguyện thứ hai mươi bốn)
    Phần tôi mạng thọ vô cùng
    Xin mọi Bồ tát cũng cùng như tôi

    25. Trong lúc tôi thành Phật, có vô số Bồ tát đủ tướng mạo Tỳ khưu, người nào cũng cạo đầu, đắp y, cho đến khi nhập Niết bàn thì những tóc không khi nào để mọc dài, và những y cũng không khi nào đổi bận như đồ người thế tục.

    (Nguyện thứ hai mươi lăm)
    Khi tôi thành Phật trong đời
    Mọi Bồ tát được hình hài Tỳ khưu
    Cạo đầu y đắp chăm chiu
    Đến khi thành Phật thẩy đều giữ nguyên
    An nhiên trong cõi Niết Bàn
    Không như trần tục phải phiền phục y.

    NAM MÔ ĐẠI TRÍ VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT

    Tác giả: Tiểu Ngọc

    Đánh giá bài viết
    Chia sẻ bài viết
    Xếp hạng: 4.5 · 2 đánh giá
    Bình luận

    Tin cùng chuyên mục

    Tại sao nên ăn chay vào mùng 1 và ngày rằm. Ăn Chay có được phước báo gì không?
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-11-18 08:15:06.0
    Theo Phật giáo, việc ăn chay xuất phát từ tâm từ yêu thương tất cả chúng sinh, dù đó là loài động vật. Nhận rõ động vật cũng như con người, chúng cũng có cảm giác đau khi bị thương tổn và cũng có một nổi sợ khi đối diện với cái chết; bởi thế, xuất phát từ lòng từ, xem mạng sống là bình đẳng là như nhau nên không giết hại hay ăn thịt.
    12 lời nguyện của Phật Quán Âm
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-10-30 07:05:49.0
    Quán Thế Âm Bồ Tát đã phát ra 12 đại nguyện, mỗi nguyện đều chứa vô lượng công đức tỏa hào quang sáng chói chiếu khắp 10 phương. Trong văn hóa và Phật giáo Việt Nam, Quán Thế Âm Bồ Tát là một trong những vị Bồ Tát được thờ cúng, kính ngưỡng nhiều nhất của Phật tử và người dân.
    Nên "vuốt đầu niệm phật" cho trẻ trước khi chúng đi ngủ
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-10-25 06:24:31.0
    Khi sanh trẻ ra được một ngày các Mẹ mỗi lần cho con ngủ hãy nên tập làm ít nhất 1 lần trong 1 ngày: cố gắng Vuốt Đầu, nói con luôn ngoan, nghe lời cha mẹ và hiếu thuận nha. Lớn lên phải biết tự lập, tự lo cho mình và trở thành Người có ích cho chúng sanh.
    Sự Tích Về Ngài Quan Thế Âm Bồ Tát và Lợi ích khi niệm danh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-10-23 15:05:21.0
    Khi niệm danh hiệu ngài Quan Thế Âm thì Không còn bị những bệnh nan y: Dù có mắc chứng bệnh nan y cùng vô số bệnh khác đi nữa, bạn cũng sẽ được khỏi. Vì trong Ngũ Bách Danh có tán thán đức hiệu ngài: “Không bị chết vì bệnh ác triền thân”.
    10 Cách biến khó khăn thành trợ thủ của HT Thích Thiền Tâm
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-10-22 05:54:15.0
    Trong mười điều này, luận Bảo Vương Tam Muội đã dùng mười hạnh không cầu để phá trừ. Thế thì trong phước có họa, trong họa có phước, trong thông có ngại, trong ngại có thông.
    Dấu hiệu của hết phước và 6 Hành vi làm hao tổn phước
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-10-15 07:35:56.0
    Ông Bà ta cũng dạy "Giàu lên dễ sinh tật" và nếu quan sát cuộc đời họ thì không lâu sau họ sẽ suy sụp từ tinh thần đến vật chất và nhu cầu của cuộc sống, ngoài việc sinh tật ra các dấu hiệu khác của mất phước
    Xá lợi phật là gì? Ý nghĩa xá lợi Phật, Xá lợi - bí ẩn chưa được giải mã
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-10-10 07:21:39.0
    Xá Lợi Phật và Chư Bồ Tát là bảo vật thiêng liêng vô giá được tích tụ từ công đức thù thắng cuả Thiền định , đạt đến sự vi diệu cuả Đaị định tam muôị – Đức Phật và chư Bồ tát vì bản nguyện độ sanh , đã phát Đại thừa tâm vô cùng dõng mãnh , tận trừ moị cấu hoặc phiền não đạt đến thanh tịnh tuyệt đỉnh
    Nhục thân nghĩa là gì? Bí ẩn tượng xác ướp của hai vị sư ngồi thiền ở chùa Đậu
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-10-09 07:28:33.0
    Tương truyền, hai vị thiền sư tu hành vào thế kỷ 17, là trụ trì tại chùa Đậu. Hai Ngài Vũ Khắc Minh - Vũ Khắc Trường là hai chú cháu cũng là hai thầy trò. Cả hai vị có căn duyên đặc biệt, đều sớm lìa xa đời sống thế tục để xuất gia tu hành, lấy pháp hiệu Tự Đạo Chân - Tự Đạo Tâm. Suốt cuộc đời, hai Ngài gìn giữ lối sống thanh đạm, mỗi ngày chỉ ăn một bữa cơm rau vào chính ngọ.
    Tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa cờ ngũ sắc của Phật giáo
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-10-05 06:03:51.0
    Lá cờ được chia thành sáu phần hay sáu sọc theo chiều dọc, tượng trưng cho sáu thể dạng của chúng sinh, tức Lục thú hay Lục đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, A-tu-la và thiên). Sọc thứ sáu, tổng hợp của năm màu, tượng trưng cho sự hòa đồng, không phân biệt giữa tất cả chúng sinh.
    Ananda đệ nhất thị giả của Đức Phật, đọc để hiểu hơn về sự vĩ đại của Ngài
    Phật Pháp Nhiệm Màu - 2021-09-29 05:29:20.0
    Ngài Anan có bốn Như ý đức của một vị Chuyển luân thánh vương, là sao? Có nghĩa là khi mà người ta gặp mặt Ngài người ta vui, mà chưa gặp mặt Ngài người ta trông ngóng gặp cho bằng được, khi gặp mặt Ngài rồi Ngài nói chuyện người ta nghe cũng thích, mà người ta ngồi người ta nhìn Ngài người ta cũng đã thấy thương.
    Chia sẻ